Mô tả tất cả các khía cạnh của Đại Việt Cộng Hòa
Post a reply

Nam Việt / 南越帝國 (204 BC–111 BC)

Jul 30th, '11, 10:38

Nam Việt / 南越帝國 (204 BC–111 BC)


Châu Á năm 200 TCN (Click vào bản đồ để thấy rõ).
Nam Việt (chữ Hán: 南越; bính âm: Nányuè) là một quốc gia cổ có lãnh thổ bao gồm một số phần của các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc hiện đại và phần lớn miền Bắc Việt Nam. Nam Việt do Triệu Đà, một viên quan nhà Tần (Trung Quốc) thành lập năm 203 TCN. Kinh đô của Nam Việt là thành Phiên Ngung (番禺), nay là một quận thuộc Quảng Châu, Trung Quốc.

Mục lục

[ẩn]
1 Lịch sử
1.1 Thành lập
1.2 Thời Triệu Đà
1.3 Thời Triệu Mạt
1.4 Thời Triệu Anh Tề
1.5 Thời Triệu Hưng
1.6 Kết thúc
2 Dân tộc và ngôn ngữ
3 Di tích văn hóa
4 Các vua Nam Việt
5 Xem thêm
6 Tham khảo
7 Chú thích
8 Liên kết ngoài
[sửa] Lịch sử

[sửa] Thành lập



Đĩa đồng thời nhà Triệu khai quật tại Quảng Tây, Trung Quốc
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 vương quốc cổ của người hán là Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, ông ta bắt đầu chuyển sự chú ý sang các bộ lạc người Hung Nô ở phía bắc và Bách Việt ở phía nam. Khoảng năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư cùng 500.000 quân Tần chia làm 5 đạo tấn công các bộ lạc Bách Việt ở vùng đất Lĩnh Nam. Đạo quân thứ nhất hợp binh ở Dư Can (nay là huyện Dư Can, Giang Tây) và đánh chiếm Mân Việt lập ra quận Mân Trung. Đạo quân thứ hai được tăng cường thêm tại Nam Dã (nay là huyện cấp thị Nam Khang tỉnh Giang Tây) nhằm buộc các dân tộc Việt ở phía nam phải phòng thủ. Đạo quân thứ 3 đánh chiếm Phiên Ngung. Đạo quân thứ 4 đồn trú gần núi Cửu Nghi (tiếng Trung: 九嶷山). Đạo quân thứ năm đóng quân bên ngoài Đàm Thành (镡城, phía tây nam Tĩnh Châu, tỉnh Hồ Nam ngày nay)[1]. Tần Thủy Hoàng sai viên quan Sử Lộc (史禄) giám sát việc cung cấp hậu cần. Đầu tiên Sử Lộc chỉ huy một nhóm quân vượt qua kênh Hưng An (nối liền Tương giang và Li giang), sau đó dùng thuyền vượt sông Dương Tử và sông Châu Giang tìm được con đường an toàn tiếp tế lương thực cho quân Tần. Tần sau đó tấn công Âu Việt, thủ lĩnh của Âu Việt là Dịch Hu Tống bị giết. Tuy nhiên, Âu Việt vẫn phản kháng. Họ bỏ chạy vào rừng và bầu ra một thủ lĩnh mới là Kiệt Tuấn để tiếp tục chống lại Tần. sau đó một cuộc tấn công vào ban đêm của Âu Việt đã gây thiệt hại nặng cho quân Tần, tướng Đồ Thư bị giết cùng khoảng 10 vạn quân[1]. Triều đình nhà Tần đã chọn Nhâm Ngao lên nắm quyền chỉ huy thay cho Đồ Thư. Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng cử Nhâm Ngao và Triệu Đà chỉ huy quân tiếp viện tiếp tục tấn công. Lần này Âu Việt đã bị đánh bại hoàn toàn và vùng Lĩnh Nam bị sát nhập vào Tần. Cùng năm, nhà Tần lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận. Nhâm Ngao được bổ nhiệm làm quận úy Nam Hải. Nam Hải được chia thành Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác La và Yết Dương. Triệu Đà được bổ nhiệm làm huyện lệnh Long Xuyên.

Tần Thủy Hoàng chết năm 210 TCN, con trai Hồ Hợi lên thay trở thành Tần Nhị Thế. Một năm sau, khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng nổ ra. Cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp Trung Quốc, toàn bộ khu vực sông Hoàng Hà rơi vào hỗn loạn. Phong trào chống Tần ngày càng mạnh khiến Tần Nhị Thế phải bãi binh ở Lĩnh Nam. Năm 208 TCN, quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết cho gọi Triệu Đà đến, dặn dò nên chiếm lấy vùng Lĩnh Nam cát cứ. Nhâm Ngao chết, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân đội Trung nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những quan lại nhà Tần bổ nhiệm ở Lĩnh Nam, cho tay chân của mình thay vào những chức vụ đó.

Năm 206, nhà Tần mất, các bộ tộc Bách Việt ở Quế Lâm và Tượng Quận trở nên độc lập hơn với Trung Quốc. Theo truyền thuyết thủ lĩnh An Dương Vương ở phía nam đã thành lập vương quốc Âu Lạc (tiếng Trung: 甌駱). Cũng theo truyền thuyết, khoảng năm 179 TCN[2], Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc của An Dương Vương, chia lãnh thổ Âu Lạc làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi sáp nhập vào Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận. Lãnh địa gồm 5 quận của Nam Việt ổn định tới khi nước này bị diệt cùng nhà Triệu. Năm 204 TCN, Triệu Đà thành lập Nam Việt, kinh đô đặt ở Phiên Ngung và xưng là Nam Việt Vũ vương (tiếng Trung: 南越武王).

[sửa] Thời Triệu Đà

Xem thêm: Tượng quận


Lược đồ hành chính 3 quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng thời nhà Triệu (thế kỉ 3 TCN)
Ban đầu, lãnh thổ Nam Việt gồm 3 quận Nam Hải (đại bộ phận tương đương Quảng Đông ngày nay), Quế Lâm (đông bộ Quảng Tây) và Tượng (tây bộ Quảng Tây, nam bộ Quý Châu)[3]. Nước Nam Việt phía bắc giáp Mân Việt và Trường Sa, phía tây giáp Dạ Lang, phía nam giáp Âu Lạc, phía đông nam giáp biển.

năm 202 TCN, Lưu Bang thống nhất Trung Hoa và thành lập nhà Hán. Cuộc chiến của Lưu Bang đã khiến nhiều khu vực của Trung Quốc bị tàn phá nặng nề và dân số suy giảm. Các lãnh chúa phong kiến tiếp tục nổi loạn khắp nơi, trong khi lãnh thổ ở phía bắc thường xuyên bị người Hung Nô tấn công. Tình trạng bất ổn đó buộc triều đình Hán cư xử rất hòa hảo với Nam Việt. Năm 196 TCN, Lưu Bang, bây giờ là Hán Cao Tổ đã cử Lục Giả (陸賈) đến Nam Việt với hi vọng lấy được lòng trung thành của Triệu Đà. Sau khi đến nơi, Lục Giả gặp Triệu Đà và được cho là đã thấy Triệu Đà đón tiếp ông trong trang phục và phong tục của Bách Việt. Điều đó đã khiến cho Lục Giả nổi giận. Diễn ra một cuộc tranh cãi dài sau đó, Lục Giả đã quở trách Triệu Đà, chỉ ra rằng ông là người Hán không phải người Việt, và nên giữ cách ăn mặc cùng lễ nghi của người Hán, không được quên truyền thống của tổ tiên mình. Lục Giả ca ngợi sức mạnh của nhà Hán và cảnh báo một vương quốc nhỏ như Nam Việt chống lại nhà Hán là liều lĩnh. Sau khi đe dọa giết thân thích của Triệu Đà ở Hán và phá hủy mồ mả tổ tiên, cũng như ép buộc dân Bách Việt phế truất ông, Triệu Đà đã quyết định nhận con dấu của Hán Cao Tổ và quy phục nhà Hán. Quan hệ buôn bán được thiết lập tại biên giới của Nam Việt và vương quốc Trường Sa thuộc Hán. Mặc dù chính thức là một nước chư hầu của nhà Hán nhưng Nam Việt dường như không mất đi quyền tự chủ trên thực tế.

Sau khi Lưu Bang chết năm 195 TCN, quyền lực rơi vào tay Lã Hậu. Lã Hậu sai người đến quê hương của Triệu Đà là Chân Định (真定) (nay là huyện Chính Định, Hà Bắc, Trung Quốc) giết nhiều họ hàng thân thích và mạo phạm mộ tổ tiên của Triệu Đà. Triệu Đà tin rằng Trường Sa vương Ngô Thần đã tạo ra những lời buộc tội dối trá chống lại ông để Lã Hậu cắt đứt buôn bán giữa hai nước và để chuẩn bị đánh chiếm Nam Việt sát nhập vào vương quốc Trường Sa của Ngô Thần. Để trả thù, Triệu Đà xưng là hoàng đế của Nam Việt và đánh chiếm Trường Sa. Lã Hậu cử tướng Chu Táo chỉ huy quân đội để trừng phạt Triệu Đà. Thời tiết nóng ẩm ở phía nam khiến binh lính của Chu Táo đổ bệnh, không thể tiến tiếp xuống phía nam. Cuối cùng họ phải rút lui. Sau đó Triệu Đà chiếm các nước xung quanh Mân Việt ở phía đông và Âu Lạc ở phía nam.

Năm 179 TCN, Lưu Hằng lên ngôi vua Hán trở thành Hán Văn Đế. Ông đã đảo ngược nhiều chính sách trước đó của Lã Hậu và thực hiện thái độ hòa giải đối với Triệu Đà. Hán Văn Đế ra lệnh cho các viên quan đến thăm Chân Định, cho quân canh giữ bảo vệ huyện trấn và thường xuyên chăm lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Đà. Tể tướng Trần Bình đề nghị cử Lục Giả đến Nam Việt vì họ đã biết nhau từ trước. Lục Giả đến Phiên Ngung thêm một lần nữa và giao bức thư của Hán Văn Đế cho Triệu Đà nhấn mạnh rằng những chính sách của Lã Hậu là nguyên nhân gây ra sự thù địch giữa Nam Việt với triều đình Hán và đem đến nỗi đau khổ cho dân thường biên giới. Triệu Đà lại quyết định quy phục nhà Hán lần nữa, rút lại danh xưng hoàng đế và trở lại xưng vương, Nam Việt lại trở thành nước chư hầu của Hán. Tuy vậy, hầu như những sự thay đổi đó là bề ngoài, Triệu Đà tiếp tục được gọi là hoàng đế khắp Nam Việt.

Ngoài 5 quận trực tiếp cai trị, Triệu Đà còn gây ảnh hưởng tới các nước nhỏ thuộc tộc Bách Việt xung quanh như Đông Việt (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), tức là toàn bộ phía đông Hoa Nam[4].

[sửa] Thời Triệu Mạt

Năm 137 TCN Triệu Đà chết, đã sống hơn 100 năm. Vì tuổi tác lớn như vậy, con trai của ông hoàng tử Triệu Trọng Thủy đã chết trước, vì vậy cháu của Triệu Đà là Triệu Mạt đã trở thành vua của Nam Việt. Năm 135 TCN, vua của nước láng giềng Mân Việt mở một cuộc tấn công vào các thị trấn dọc biên giới giữa Nam Việt và Mân Việt. Vì Triệu Mạt chưa củng cố quyền lực của mình, nên buộc phải cầu xin Hán Vũ Đế gửi quân đến giúp Nam Việt chống lại điều mà ông gọi là "những kẻ nổi loạn Mân Việt". Hán Vũ Đế khen ngợi Triệu Mạt là một chư hầu trung thành và phái đại hành Vương Khôi, một viên chức cai trị người dân tộc thiểu số, và đại tư nông Hàn An Quốc chỉ huy quân đội, ra lệnh chia quân thành 2 đạo tấn công Mân Việt từ hai hướng, một từ Dự Chương, hướng khác là từ Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng). Nhưng trước khi họ hành quân đến nơi thì vua của Mân Việt là Dĩnh đã bị em trai là Dư Thiện ám sát, sau đó Dư Thiện đã nhanh chóng đầu hàng.

Hán Vũ Đế sau đó cử sứ giả là Nghiêm Trợ đến Phiên Ngung để đưa bản tuyên bố đầu hàng chính thức của Mân Việt cho Triệu Mạt. Triệu Mạt đã bày tỏ lòng biết ơn của mình đến Hán Vũ Đế cùng với một lời hứa rằng ông sẽ vào kinh đô triều kiến Vũ Đế tại Trường An. Và sau đó, thậm chí Triệu Mạt đã phái con trai của mình là Triệu Anh Tề cùng trở về Trường An với Nghiêm Trợ. Trước đây Triệu Mạt chưa bao giờ tới Trường An. Một cận thần của ông đã cố gắng khuyên không nên đi vì sợ rằng Hán Vũ Đế sẽ tìm ra một vài nguyên nhân để ngăn cản ông quay trở về, điều đó sẽ dẫn đến sự diệt vong của Nam Việt. Triệu Mạt vì vậy đã cáo bệnh và không bao giờ đến Trường An.

Ngay sau khi Mân Việt đầu hàng quân Hán, Vương Khôi đã phái Đường Mông, huyện lệnh Phiên Dương, đến để đưa tin Mân Việt đầu hàng cho Triệu Mạt. Khi ở Nam Việt, Đường Mông đã được giới thiệu ăn một loại nước xốt truyền thống của Nam Việt được làm từ quả sơn tra nhập khẩu từ đất Thục. Ngạc nhiên rằng đó là một sản vật sẵn có, và Đường Mông đã từng được biết rằng có một tuyến đường từ Thục (Nay là tỉnh Tứ Xuyên) đi đến Dạ Lang, rồi sau đó dọc theo sông Tang Kha (Ngày nay là sông Bắc Bàn chảy qua tỉnh Vân Nam và Quý Châu) đi thẳng đến thủ đô Phiên Ngung của Nam Việt. Ngay sau đó Đường Mông đã phác thảo một kế hoạch trình lên Hán Vũ Đế đề nghị tập hợp 100.000 quân tinh nhuệ tại Dạ Lang, sau đó dùng thuyền vượt sông Tang Kha để mở cuộc tấn công bất ngờ vào Nam Việt. Hán Vũ Đế đồng ý với kế hoạch của Đường Mông và phong ông làm Lang Trung tướng và cho phép ông dẫn đầu 1000 quân cùng nhiều quân lương và xe hàng từ hẻm Ba Phù (ngày nay gần huyện Hợp Giang, tỉnh Tứ Xuyên) tiến vào Dạ Lang. Nhiều xe hàng mang theo là quà tặng cho các lãnh chúa phong kiến của Dạ Lang như là quà hối lộ để họ tuyên bố trung thành với nhà Hán, điều mà sau đó họ đã làm, và Dạ Lang trở thành quận Kiền Vi của nhà Hán.

Sau hơn một thập kỷ trị vì, Triệu Mạt đổ bệnh và qua đời khoảng năm 122 TCN.

[sửa] Thời Triệu Anh Tề

Sau khi nghe tin cha đổ bệnh nặng. Triệu Anh Tề nhận được sự chấp nhận từ Hán Vũ Đế quay trở về Nam Việt. Sau khi Triệu Mạt chết, Triệu Anh Tề lên ngôi vua Nam Việt. Trước khi được phái đến Trường An, Triệu Anh Tề đã kết hôn với một phụ nữ trẻ người Việt và đã có một con trai là Triệu Kiến Đức. Trong khoảng thời gian Triệu Anh Tề sống ở Trường An, ông cũng cưới một phụ nữ người Hán, giống như ông, một người đến từ Hàm Đan (vì quê hương của Triệu Đà cũng ở vùng đó). Họ đã có một con trai tên là Triệu Hưng. Vì kiêu ngạo với ngôi vị vua Nam Việt, ông đã xin Hán Vũ Đế để lập người vợ Hán thành hoàng hậu và Triệu Hưng thành hoàng tử, một hành động mà cuối cùng đã mang đến thảm họa chống lại Nam Việt. Triệu Anh Tề có tiếng là một bạo chúa vì đã giết nhiều thường dân một cách tự do. Triệu Anh Tề chết khoảng năm 113 TCN.

[sửa] Thời Triệu Hưng

Triệu Hưng lên ngôi khi mới 5 tuổi, mẹ Cù thái hậu tham chính. Hán Vũ Đế sai sứ giả An Quốc Thiếu Quý, vốn là tình nhân cũ của Cù thái hậu, sang thuyết phục Nam Việt quy phụ nhà Hán. Cù thái hậu lại cùng Thiếu Quý tư thông và muốn thuận theo nhà Hán, nhưng thừa tướng người Việt là Lữ Gia phản đối. Năm 112 TCN, Lữ Gia mang quân đánh vào cung, giết chết Cù thái hậu và Triệu Hưng cùng An Quốc Thiếu Quý, lập anh Triệu Hưng là Triệu Kiến Đức lên ngôi, tức là Triệu Thuật Dương vương.

[sửa] Kết thúc

Xem thêm: Bắc thuộc lần 1
Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh. Vua Triệu là Thuật Dương Vương Kiến Đức và Tể tướng Lữ Gia đều lần lượt bị bắt và bị hại (111 TCN). Nhà Triệu bị diệt, nước Nam Việt cùng mất sau 97 năm tồn tại, với 5 đời vua.

Sau khi chiếm được Nam Việt, Hán Vũ Đế gộp lãnh thổ với đảo Hải Nam, lập ra Bộ Giao Chỉ. Sau đó nhà Hán chia tách, sáp nhập lại đất đai của Nam Việt cũ thành 6 quận (cả Bộ Giao Chỉ mới gồm 9 quận).

Hơn 650 năm sau, Lý Bí đánh đuổi quân Lương lập ra nước Vạn Xuân năm 544, cũng xưng là Nam Việt Đế mà sử quen gọi là Lý Nam Đế[5].

Hơn 10 thế kỷ sau, tướng nhà Đường là Lưu Nghiễm cũng nhân lúc Trung Nguyên loạn lạc, chiếm cứ vùng Lĩnh Nam (Lưỡng Quảng) lập ra nước Đại Việt năm 917, rồi sang năm 918 đổi tên thành Nam Hán; Phiên Ngung cũng được họ Lưu chọn làm kinh đô. Phần Âu Lạc cũ khi đó do họ Khúc người Việt cai trị, Nam Hán chỉ chiếm được trong thời gian ngắn.

Năm 1804 (1915 năm sau khi Nam Việt mất), sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long sai sứ sang thỉnh cầu nhà Thanh thừa nhận quốc hiệu mới là Nam Việt, nhưng vua Gia Khánh cho rằng nước Nam Việt cũ của Triệu Đà bao gồm cả Lưỡng Quảng của Trung Quốc nên đảo 2 chữ thành Việt Nam để tránh lầm lẫn[6].

[sửa] Dân tộc và ngôn ngữ



Trống đồng lấy từ mộ số 1 La Bạc Loan, Quảng Tây. Đây là trống đồng thời nhà Triệu nước Nam Việt. Trống đồng là biểu trưng quyền lực quốc gia của các tộc Bách Việt.


Thanh kiếm bằng đồng có niên đại cuối thời Chiến Quốc- đầu thời kỳ dựng nước Nam Việt được khai quật tại một ngôi mộ ở Quảng Tây, Trung Quốc
Đa số cư dân của Nam Việt là người Bách Việt cùng khoảng 100.000 người Hán di cư xuống phía nam, nhóm người Hán này nắm giữ hầu hết các chức vụ quyền lực trong bộ máy chính quyền Nam Việt. Họ bao gồm con cháu của binh lính Tần được gửi xuống chinh phục phía nam với những cô gái trẻ làm công việc may vá trong quân đội, các quan lại và tội phạm nhà Tần bị lưu đày, và cả các thương gia.

Cư dân Nam Việt sinh sống chủ yếu ở phía bắc, phía đông và trung tâm Quảng Đông, một nhóm nhỏ sinh sống ở phía đông Quảng Tây.

Người Âu Việt sinh sống tại khu vực phía tây Quảng Đông, họ tập trung chủ yếu dọc lưu vực các con sông như Tầm Giang, Tây Giang và khu vực phía nam sông Quế Giang. Những con cháu của Dịch Hu Tống, thủ lĩnh Âu Việt bị quân Tần giết vẫn nắm giữ vai trò là thủ lĩnh của các thị tộc Âu Việt. Đến khi Nam Việt bị Hán diệt, khu vực quận Quế Lâm đã có khoảng vài trăm ngàn người Âu Việt sinh sống.

Các thị tộc Lạc Việt sinh sống ở khu vực ngày nay là nam Quảng Tây và bắc Việt Nam, bán đảo Lôi Châu (Hải Nam) và vùng tây nam Quý Châu. Họ tập trung tại các lưu vực Tả Giang và Hữu Giang Quảng Tây, đồng bằng sông Hồng ở bắc Việt Nam, và lưu vực sông Pan ở Quý Châu.

Nam Việt vẫn thực hiên phần lớn các chính sách từ thời Tần đối với sự tiếp xúc của người bản xứ với người Hán di cư. Triệu Đà chủ chương đẩy mạnh chính sách giao hòa hai nền văn hóa với nhau. Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà chỉ dùng 2 quan sứ cai quản 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, và cho duy trì chế độ Lạc tướng cha truyền con nối, tổ chức vùng (bộ hay bộ lạc) của người bản địa vẫn chưa bị xóa bỏ[7]. Nhưng người Hán nắm giữ hầu hết các chức vụ trong chính quyền, sự áp đảo này diễn ra ngay sau khi quân Tần chinh phục phía nam. Trải qua thời gian, người Việt bắt đầu tham gia nhiều hơn vào chính quyền. Lữ Gia tể tướng cuối cùng của Nam Việt là một người bản địa, và hơn 70 họ hàng thân thích của ông ta đã làm quan với các cấp bậc khác nhau trong chính quyền của Nam Việt. Tại những khu vực dân cư mà chính quyền gọi là “phức tạp”, các thủ lĩnh người bản địa thường được trao cho quyền tự trị lớn. Dưới quyền cai trị của mình Triệu Đà đã thúc đẩy người Hán di cư vào biên giới Nam Việt. Hôn nhân giữa người Hán và người bản địa trở nên ngày càng phổ biến trong suốt thời gian tồn tại của Nam Việt, thậm chí xảy ra trong hoàng tộc họ Triệu. Nhiều cuộc hôn nhân giữa hoàng tộc họ Triệu và gia đình của Lữ Gia đã được sử sách ghi chép. Triệu Kiến Đức vị vua cuối cùng của Nam Việt là con trai của vị vua trước Triệu Minh Vương với vợ người bản địa.

Tiếng Hoa cổ là ngôn ngữ chính thống trong triều đình Nam Việt, đa số dân chúng nói tiếng bản địa - thứ ngôn ngữ ngày nay không còn và được xem là nguồn gốc của tiếng Choang và tiếng Thái hiện nay. Tổ chức triều đình Nam Việt còn mang nặng màu sắc thủ lĩnh bộ lạc bản địa[8]. Sự hòa trộn của họ Triệu với những người Bách Việt được xem là nhân tố tạo nên tộc Triệu lớn mạnh còn phổ biến trong số người Choang, người Tày, người Nùng ở Quảng Tây - Trung Quốc và các tỉnh biên giới Việt Nam như Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Cạn, Lạng Sơn... Có ý kiến nhìn nhận những thủ lĩnh người Việt chống Bắc thuộc sau này như Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh hay Triệu Quang Phục là hậu duệ của nhà Triệu nước Nam Việt[9].

Do hầu như không còn bằng chứng về chữ viết thời kỳ này của người Lĩnh Nam bản địa, cuộc chinh phục của người Hoa được xem là tác nhân truyền bá chữ viết Hán tới khu vực này. Nhiều di tích hiện vật trong mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu có sự hiện diện của chữ viết. Tuy nhiên, văn tự Hán ở Nam Việt vẫn kém phát triển, qua kết quả khảo cổ cho thấy những minh văn chữ Hán được khắc rất xấu và mắc nhiều lỗi chính tả trên đồ ngự dụng cho vua và các phu nhân[8].

[sửa] Di tích văn hóa



Huyệt mộ Triệu Văn Vương nhìn từ trên xuống
Di chỉ cung điện nhà Triệu nằm tại thành phố Quảng Châu trên diện tích 15.000 mét vuông. Được khai quật năm 1995, di tích này còn chứng tích của cung điện Nam Việt cổ. Năm 1996, nơi đây được Chính phủ Trung Quốc liệt vào danh sách các Di tích văn hóa quốc gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Năm 1983, huyệt mộ Triệu Văn Đế được khai quật ở Quảng Châu thuộc Quảng Đông[10]. Năm 1988, Bảo tàng Mộ vua Triệu được xây dựng tại khu đất này, nhằm trưng bày hơn 1000 hiện vật, trong đó có 500 hiện vật bằng đồng, 240 hiện vật bằng ngọc và 246 hiện vật bằng kim loại. Năm 1996, chính phủ Trung Quốc đưa công trình này vào danh sách Khu Di sản quốc gia được bảo vệ.

Ngoài mộ vua Triệu, các nhà khảo cổ còn khai quật được mộ một viên quan thuộc hàng huyện lệnh ở La Bạc Loan, Quý huyện, tỉnh Quảng Tây và nhiều mộ chí ở Quảng Châu, Hợp Phố được xếp vào niên đại đầu thời Tây Hán (ngang với thời gian tồn tại của Nam Việt). Ban đầu, các nhà khảo cổ Trung Quốc xếp chung các mộ này vào văn hóa Tây Hán, nhưng sau đó càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc và quốc tế nhận thấy sự khác biệt giữa các di tích này với văn hóa Tây Hán. Do đó, họ dùng thuật ngữ văn hóa Nam Việt hay văn hóa Giao Chỉ để phân biệt văn hóa vùng này với văn hóa Tây Hán, tương tự như những nền văn hóa các vùng Ba, Thục, Điền ở Tứ Xuyên, Vân Nam cũng khác văn hóa Trung nguyên của Tây Hán đương thời[10]. Nền tảng của văn hóa Nam Việt là văn hóa đồng thau Bách Việt nói chung, trong đó yếu tố Đông Sơn khá đậm nét[10].

[sửa] Các vua Nam Việt

Nhà Triệu tồn tại từ năm 203 đến năm 111 trước Công Nguyên thì bị nhà Hán thôn tính, trải qua 5 đời vua. Các sử gia Trung Quốc, vì coi Nam Việt là chư hầu, đều chép các vua Nam Việt tước "vương", các sử gia Việt Nam soạn Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục... cũng theo sử sách Trung Quốc mà biên chép các vua Triệu tước vương, trừ Triệu Đà được chép là Vũ Đế. Tuy nhiên, qua kết quả khai quật mộ vua Triệu thứ hai (vẫn được sử Việt Nam quen gọi là Triệu Văn Vương) cho thấy các ấn chương, văn bản và danh xưng đều là "đế" chứ không phải vương. Điều đó gây bất ngờ với chính các sử gia Trung Quốc hiện đại[4]. Giới sử học thống nhất rằng: tước vương của các vua Nam Việt chỉ là xưng hiệu trong quan hệ ngoại giao với nhà Hán (giống các triều đại Việt Nam trong quan hệ với các triều đại Trung Quốc sau này), còn trong nội bộ Nam Việt, các vua Triệu đều xưng đế[4].

Các vua Triệu xưng đế, những người hoàng tộc họ Triệu được phong "vương" và các thủ lĩnh người Việt ở đất Âu Lạc cũ (tự quản) cũng có tước "vương" như Tây Vu vương[11]. Sử sách còn ghi lại khi Nam Việt bị diệt, hoàng thân là "Thương Ngô vương Triệu Quang cùng huyện lệnh Yết Dương tên là Định đầu hàng"[11].

Các vua Triệu gồm có:

Triệu Vũ Đế hay Triệu Vũ Vương (Triệu Đà, 203-137 trước Công nguyên).
Triệu Văn Đế hay Triệu Văn Vương (Triệu Mạt hay Triệu Hồ, 137-125 trước Công nguyên).
Triệu Minh Đế hay Triệu Minh Vương (Triệu Anh Tề, 125-113 trước Công nguyên).
Triệu Ai Đế hay Triệu Ai Vương (Triệu Hưng, 113-112 trước Công nguyên).
Triệu Dương Đế hay Triệu Dương Vương (Triệu Kiến Đức, 112-111 trước Công nguyên).
[sửa] Xem thêm

Nhà Triệu
Triệu Đà
Bắc thuộc lần 1
Trọng Thủy
Chiến tranh Tần-Việt
[sửa] Tham khảo

Đại Việt sử ký toàn thư
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Kỷ nhà Triệu
Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, NXB Thời đại
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Đào Duy Anh (2005), Lịch sử cổ đại Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin
Nguyễn Việt (2010), Hà Nội thời tiền Thăng Long, NXB Hà Nội
[sửa] Chú thích

^ a b Lưu An, Hoài Nam tử: quyển 18 - Nhân gian huấn, nguyên tác: 又利越之犀角、象齒、翡翠、珠璣,乃使尉屠睢發卒五十萬,為五軍,一軍塞鐔城之嶺,一軍守九疑之塞,一軍處番禺之都,一軍守南野之界,一軍結餘干之水,三年不解甲弛弩,使監祿無以轉餉,又以卒鑿渠而通糧道,以與越人戰,殺西嘔君譯吁宋。而越人皆入叢薄中,與禽獸處,莫肯為秦虜。相置桀駿以為將,而夜攻秦人,大破之,殺尉屠睢,伏尸流血數十萬。乃發適戍以備之。, Hán-Việt: Hựu lợi Việt chi tê giác, tượng xỉ, phỉ thúy, châu ki, nãi sử úy Đồ Tuy phát tốt 50 vạn, vi 5 quân, nhất quân tái Đàm Thành chi lĩnh, nhất quân thủ Cửu Nghi chi tái, nhất quân xử Phiên Ngu chi đô, nhất quân thủ Nam Dã chi giới, nhất quân kết Dư Can chi thủy, tam niên bất giải giáp thỉ nỗ, sử giám Lộc vô dĩ chuyển hướng, hựu dĩ tốt tạc cừ nhi thông lương đạo, dĩ dữ Việt nhân chiến, sát Tây ẩu quân Dịch Hu Tống. Nhi Việt nhân giai nhập tùng bạc trung, dữ cầm thú xử, mạc khẳng vi Tần lỗ. Tướng trí Kiệt Tuấn dĩ vi tướng, nhi dạ công Tần nhân, đại phá chi, sát úy Đồ Tuy, phục thi lưu huyết sổ thập vạn. Nãi phát thích thú dĩ bị chi.
^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 144
^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 427
^ a b c Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 639
^ Đại Việt sử ký toàn thư, ngoại kỷ quyển 4
^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 462
^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 153
^ a b Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 641
^ Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 642
^ a b c Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 647
^ a b Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 457
[sửa] Liên kết ngoài

Commons có thêm hình ảnh và tư liệu khác về Nam Việt.
Nước Nam Việt và các đời vua Triệu

----------------------

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t
Attachments
NamVietmap.png

Re: Nam Việt / 南越帝國 (204 BC–111 BC)

Aug 8th, '11, 10:53

Nhà Triệu / 南越帝國史略


Nhà Triệu do Triệu Vũ Đế sáng lập với quốc hiệu là Nam Việt, tồn tại từ năm 207 TCN đến năm 111 TCN.

Mục lục

[ẩn]
1 Lập quốc
2 Quan hệ với nhà Hán
3 Suy tàn
4 Vấn đề chính thống
5 Các đời vua nhà Triệu
6 Xem thêm
7 Tham khảo
8 Chú thích
9 Liên kết ngoài
[sửa] Lập quốc

Xem thêm bài: Triệu Đà
Năm 214 TCN, nhà Tần sai Đồ Thư (theo cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên, là nguồn sử duy nhất cho các nhà viết sử Trung Hoa và Việt Nam sau này, là Đồ Tuy) đem quân sang đánh vùng Dương Việt, đặt các quận Tượng (nam Hồ Nam), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Nam Hải (Quảng Đông), cho Nhâm Ngao (theo cuốn Sử Ký, là Nhiệm Hiêu hay Nhậm Hiêu) làm Quận Uý và Triệu Đà làm Lệnh Úy huyện Long Xuyên(thuộc quận Nam Hải). Năm 210 TCN, Nhâm Ngao và Triệu Đà đánh nước Âu Lạc của An Dương Vương, bị thua trận phải rút về.

Sau khi Tần Thuỷ Hoàng mất, đế quốc Tần hỗn loạn, khởi nghĩa nổi lên khắp nơi. Nhâm Ngao sắp chết, khuyên Triệu Đà chiếm lấy vùng Bách Việt để tự lập làm vua. Năm 208 TCN (có thuyết khác cho rằng năm 179 TCN), Triệu Đà đánh thắng Âu Lạc, sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải. Năm 207 TCN, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, tự xưng làm vua nước Nam Việt (hay Nam Việt Vương). Sau khi nhà Tần sụp đổ (206 TCN) Triệu Đà tiếp tục tiến đánh và thu phục quận Quế Lâm vào lãnh thổ Nam Việt

[sửa] Quan hệ với nhà Hán

Lưu Bang lên ngôi hoàng đế (tức là Hán Cao Tổ), cử Lục Giả đi sứ để phong vương cho Triệu Đà. Theo Trần Trọng Kim, mà không có trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, nguồn sử duy nhất cho các nhà viết sử sau đó, ban đầu Triệu Đà không phục, Lục Giả bèn nói: "Nhà vua là người nước hán, mồ mả và thân thích ở cả châu Chân Định. Nay nhà Hán đã làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua kháng cự sứ thần, không làm lễ thụ phong, Hán đế tất là tức giận, hủy hoại mồ mả và giết hại thân thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua làm thế nào?" Vũ vương nghe lời ấy vội vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười mà nói rằng: "Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta cũng chẳng kém gì Hán đế!" [1].

Khi Hán Cao Tổ mất, Triệu Đà xưng đế và phái binh mã đánh quận Trường Sa (tỉnh Hồ Nam ngày nay). Năm 181 TCN, quân Hán đánh Triệu Vũ Đế bị thua, thanh thế của ông càng lẫy lừng.

Hán Văn Đế lên ngôi, lại sai Lục Giả sang khuyên Triệu Đà thần phục nhà Hán. Triệu Đà nghe theo, bỏ đế hiệu và triều cống nhà Hán.

[sửa] Suy tàn

Triệu Đà mất (137 TCN), truyền ngôi cho cháu đích tôn là Triệu Hồ. Triệu Hồ ở ngôi 12 năm (136-125), khi mất truyền ngôi cho con là Anh Tề. Anh Tề từng làm con tin ở nhà Hán, lấy người con gái họ Cù, sinh con tên Hưng, sau khi lên ngôi lập Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thế tử.

Anh Tề cũng ở ngôi được 12 năm thì mất (113 TCN). Thế tử Hưng được lập làm vua, nhưng Cù thái hậu làm nhiếp chính. Cù thái hậu ngang nhiên tư thông với sứ giả nhà Hán là An Quốc Thiếu Quý, vốn là người tình cũ khi ở đất Hán khi chưa lấy Anh Tề.

Tể tướng Lữ Gia (có tài liệu nói ông là người Việt) làm quan trải ba đời vua Triệu, được lòng dân hơn vua, muốn làm loạn. Thái hậu muốn mượn tay nhà Hán giết Lữ Gia. Lữ Gia về nhà dấy quân, giết vua và Cù thái hậu cùng bọn sứ giả nhà Hán, lập cháu của Triệu Đà là Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương (112 TCN).

Hán Vũ đế sai Hàn Thiên Thu mang quân đánh Nam Việt. Lữ Gia đón đánh giết được Hàn Thiên Thu. Hán Vũ đế liền sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh, Triệu Thuật Dương Vương Kiến Đức và Tể tướng Lữ Gia đều lần lượt bị bắt và bị hại (111 TCN).

Nhà Triệu và nước Nam Việt tính từ Triệu Đà đến Triệu Kiến Đức là 5 đời vua, tồn tại 97 năm (207 - 111 TCN).

[sửa] Vấn đề chính thống

Xem Vấn đề chính thống của nhà Triệu.
Nhà Triệu trong lịch sử Trung Hoa là một vua chư hầu trong đế quốc Trung Hoa, nhưng là một giai đoạn lịch sử gây tranh cãi. Người Trung Hoa không công nhận nhà Triệu và Triệu Đà thuộc nước họ vì ông là Nam Việt hiệu úy còn theo quan điểm chính thống ở Việt Nam ngày nay thì Triệu Đà bị coi là giặc xâm lược.[2]

Quan điểm chính thống thời phong kiến, nhà Triệu là một triều đại chính thống của Việt Nam được thể hiện qua các sử gia từ Lê Văn Hưu (thế kỷ 13) đến Trần Trọng Kim (thế kỷ 20), coi đó là thời kỳ độc lập của Việt Nam, bởi vì họ Triệu cai trị Nam Việt độc lập với nhà Hán cho tới tận năm 111 TCN, khi các đội quân nhà Hán xâm lược đất nước này và sáp nhập nó vào đế chế Hán thành bộ Giao Chỉ. Lê Văn Hưu đã ghi trong bộ Đại Việt sử ký:
Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được.
Có một số tác giả phương Tây cũng công nhận điều này và cho rằng chỉ tới khi quân Hán sang tấn công Nam Việt, thời Bắc thuộc của Việt Nam mới bắt đầu.

Quan điểm phủ nhận nhà Triệu được xuất hiện từ thế kỷ 18 khi sử gia Ngô Thì Sĩ phủ nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam, trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là ngoại bang, Triệu Đà là kẻ ngoại tộc:
An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy.
Quan điểm này được tiếp nối bởi sử gia Đào Duy Anh trong thế kỷ 20, và hiện nay các sách lịch sử trong nền giáo dục tại Việt Nam đều theo quan điểm này. Theo quan điểm thứ hai này thì thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 208 TCN khi nhà Triệu đánh chiếm nước nước Âu Lạc của An Dương Vương

[sửa] Các đời vua nhà Triệu

Danh hiệu (chữ Hán, âm pinyin, âm Quảng Đông) Tên húy (chữ Hán, âm pinyin, âm Quảng Đông) Thời gian ở ngôi
Nhà Triệu
207 TCN - 111 TCN
Vũ Vương (武王, Wǔ Wáng, Mou5 Wong4)
hay Vũ Đế (武帝, Wǔ Dì, Mou5 Tai3)

Triệu Đà (趙佗, Zhào Tuó, Ziu6 To4) 207 TCN-137 TCN
Văn Vương (文王, Wén Wáng, Man4 Wong4) Triệu Hồ (趙胡, Zhào Hú, Ziu6 Wu4) hay Triệu Mạt/Muội (趙眜, Zhào Mò, Ziu6 Mut6) 137 TCN-124 TCN
Minh Vương (明王, Míng Wáng, Ming4 Wong4) Triệu Anh Tề (趙嬰齊, Zhào Yīngqí, Ziu6 Ying1 Cai4) 124 TCN-113 TCN
Ai Vương (哀王, Āi Wáng, Oi1 Wong4) Triệu Hưng (趙興, Zhào Xīng, Ziu6 Hing1) 113 TCN-112 TCN
Thuật Dương Vương (陽王, Yáng Wáng, Joeng4 Wong4)? Triệu Kiến Đức (趙建德, Zhào Jiàndé, Ziu6 Gin3 Dak1) 112 TCN-111 TCN
[sửa] Xem thêm

Nam Việt
Triệu Đà
[sửa] Tham khảo

Đại Việt Sử ký Toàn thư, Kỷ nhà Triệu
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Kỷ nhà Triệu
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược
[sửa] Chú thích

^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược.
^ Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa- Hà Văn Thùy
[sửa] Liên kết ngoài

Tiền nhiệm:
Nhà Thục Triều đại Việt Nam
207 TCN-111 TCN Kế nhiệm:
Thời kỳ lệ thuộc phương Bắc đã bắt đầu và kéo dài suốt 1117 năm kể từ khi Triệu Đà chiếm được Âu Lạc

-------------------

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tri%E1%BB%87u

Re: Nam Việt / 南越帝國 (204 BC–111 BC)

Aug 8th, '11, 10:55

Vấn đề chính thống của nhà Triệu / 南越帝國同越南喺歷史上嘅關聯


Nhà Triệu là một triều đại, hay một giai đoạn lịch sử gây nhiều tranh luận cho giới nghiên cứu sử học Việt Nam. Sử học Việt Nam trước nay có hai quan điểm trái ngược nhau:

Triệu Vũ Đế đánh bại An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt là chuyện nội bộ nước Việt, nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam. Nhà Triệu mất là khởi đầu thời kỳ Bắc thuộc.
Triệu Đà là kẻ ngoại bang đến xâm lược nước Âu Lạc. An Dương Vương mất nước là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc.
Mục lục

[ẩn]
1 Khẳng định
2 Phủ nhận
3 Quan điểm nhìn nhận
3.1 Vấn đề nguồn gốc của dòng vua
3.2 Vấn đề "xâm lược" hay "thống nhất"
3.3 Vấn đề chấp nhận triều đại ngoại tộc
4 Xem thêm
5 Liên kết ngoài
6 Chú thích
[sửa] Khẳng định

Từ khi giành lại quyền tự chủ, nhiều triều đại Việt đề cao vai trò lịch sử của Triệu Đà. Các bộ quốc sử Việt Nam suốt thời phong kiến đều chép nhà Triệu là một triều đại chính thống. Nhà Trần phong ông là Khai thiên Thế đạo Thánh vũ Thần triết Hoàng đế.

Đời Trần, sử gia Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt sử ký, chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Ông so sánh Vũ Đế với các bậc vua hiền thời cổ như Thuấn, Văn Vương:

Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được.
(Bộ sử này nay không còn, nhưng lời bàn của Lê Văn Hưu được Ngô Sĩ Liên dẫn lại trong Đại Việt sử ký toàn thư.)

Sau khi bình xong quân Minh, Nguyễn Trãi thay lời Bình Định Vương Lê Lợi soạn Bình Ngô đại cáo, rằng:

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên làm đế một phương.
Hai câu này khẳng định nước Việt không những độc lập với phương Bắc mà còn xưng đế hiệu cùng một thời (nhà Triệu với nhà Hán), tỏ ra hoàn toàn ngang hàng.

Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, sử gia nhà Lê cũng dành cho Triệu Vũ Đế những lời tốt đẹp:

Truyện Trung Dung có câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, ắt được sống lâu". Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua". Vua chính hợp câu ấy.
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: Triệu Đà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít. Điều này chứng tỏ Triệu Đà là người mang sự học đến Việt Nam từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp.

Cuối đời Nguyễn, Trần Trọng Kim soạn Việt Nam sử lược vẫn chép nhà Triệu là chính thống.

Quan điểm chính thống hiện nay của Việt Nam coi nhà Triệu là ngoại bang, nhưng lại có ngoại lệ là cuốn Niên biểu Việt Nam[1], tiếp theo nhà Thục, kê rõ nhà Triệu với đầy đủ các đời vua, tiếp theo là đến "Thời kỳ đấu tranh chống phong kiến Trung Hoa thống trị lần thứ nhất" tính từ năm 111 TCN. Trong bảng tra cứu niên hiệu các đời vua Việt Nam cũng liệt kê niên hiệu Kiến Đức của Thuật Dương Vương, vua cuối nhà Triệu (thật ra Kiến Đức là tên húy của ông vua này). Ngoại lệ này có lẽ do sách niên biểu cốt để phục vụ việc tra cứu, trong khi nhiều sử sách xưa của Việt Nam đã coi nhà Triệu là vua Việt Nam.

[sửa] Phủ nhận

Người đầu tiên đánh giá lại vai trò của nhà Triệu có lẽ là Ngô Thì Sĩ, cuối đời Hậu Lê. Trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là ngoại bang, Triệu Đà là kẻ ngoại tộc:

An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy.
Ngô Thì Sĩ kết luận: Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Đến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.

Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam, cũng phê phán sử cũ và coi nhà Triệu là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc.

Đó cũng là quan điểm chính thống hiện nay của Việt Nam, phản ảnh trong tất cả sách sử và trong cả các lãnh vực khác. Chẳng hạn Tố Hữu làm thơ gọi họ Triệu là "giặc", phê phán Mỵ Châu làm mất nước:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu,
Trái tim lầm chỗ để trên đầu.
Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu.
Chỉ có một ngoại lệ là cuốn Niên biểu Việt Nam[1] như đoạn trên đã trình bày.

[sửa] Quan điểm nhìn nhận

[sửa] Vấn đề nguồn gốc của dòng vua

Xoay quanh vấn đề Triệu Đà và nhà Triệu, mấu chốt là do quan điểm nhìn nhận. Các sử gia không có xu hướng coi nặng việc tìm nguồn gốc Triệu Đà và bản chất dân nước Nam Việt sẽ nhìn nhận Triệu Đà là vua Việt Nam. Ngược lại những người coi trọng nguồn gốc xuất thân, "quê hương" của người cầm đầu chính quyền, và bản chất dân nước Nam Việt có nhìn nhận khác.

Triệu Đà là người Hán, vốn là tướng nhà Tần, quê ở Chân Định (tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ngày nay), mộ cha mẹ táng ở đấy.

Bên công nhận nhà Triệu cho rằng:

Nếu đặt ra vấn đề nguồn gốc của Triệu Đà, thì chính nguồn gốc của An Dương vương, gần đây cũng được nhiều nhà nghiên cứu nêu ra, sẽ không khác gì Triệu Đà. Theo một số công trình nghiên cứu gần đây (Lịch sử Việt Nam tập 1, Theo dòng lịch sử - nhiều tác giả) thì Thục Phán vốn gốc là dòng dõi người nước Thục ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) và sang xâm lược nước Văn Lang, tiêu diệt Hùng Vương. Nếu vậy, An Dương vương liệu còn là một triều đại Việt Nam không? [2] Đi xa hơn nữa, nếu truy về nguồn cội tổ tiên, thì còn những trường hợp khác mà sử đã ghi, như Lý Nam đế (Lý Bí) có tổ 7 đời là người phương Bắc (Trung Hoa) vào Việt Nam, hoặc tổ tiên 5 đời của nhà Trần cũng vốn xuất thân từ đất Mân (Phúc Kiến - Trung Quốc) sang; tổ tiên của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thời Dương Tam Kha (sử chép là thời Hậu Hán 947 - 950, tương đương Dương Bình vương) được phong chức ở châu Hoan...

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trên thế giới, việc một người nước ngoài làm vua không phải là không có. Chẳng hạn nước Nga vẫn ghi nhận vợ của Pyotr Đại đế là Ekaterina I, dù không phải là người Nga, nhưng được chồng cho thừa kế ngôi, là nữ hoàng như các nữ hoàng khác. Tuy nhiên, những người phản bác cho rằng trường hợp nữ hoàng Ekaterina I của Nga cũng không thể so với Triệu Đà: một đàng chỉ một người ngoại quốc đã "nhập gia" quê chồng, còn triều đình, quân đội, ngôn ngữ vẫn là bản địa, đằng kia toàn bộ triều đình, quân đội, ngôn ngữ là dị biệt. Theo tác giả Hà Văn Thùy[3], cuối thế kỷ 18, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh[4] từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Trong khi đó, Triệu Đà có vợ Trình Thị là người Đường Thâm, Giao Chỉ, nên các con cháu ông - các đời vua sau của nhà Triệu - đều có phần máu Việt.

Cũng theo ông Hà Văn Thùy thì "đúng Triệu Đà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta".

[sửa] Vấn đề "xâm lược" hay "thống nhất"

Những người phản đối tính chính thống của nhà Triệu, trong đó có Ngô Thì Sĩ, lập luận rằng Triệu Đà khởi phát ở bên ngoài lãnh thổ nước Việt, chiếm nước Việt làm quận huyện. Nước Nam Việt của Triệu Đà không phải nước Việt với ba vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam mà trong sử sách Việt Nam vẫn coi là lãnh thổ của mình. Do đó, nếu coi Triệu Đà là một vua Việt Nam thì giả thuyết này coi nước Việt Nam lúc ấy bao gồm cả các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần của tỉnh Hồ Nam, Vân Nam, và Phúc Kiến của Trung Quốc bây giờ. Nếu không thì phải cho đây là một sự xâm lược.

Một số học giả lại không cho việc Triệu Đà sáp nhập vùng đất của Âu Lạc vào Nam Việt là xâm lược. Tác giả Hà Văn Thùy[3] lập luận rằng "sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Do đó, việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Đà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành môt nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc." Học giả này đánh giá cao vai trò của nhà Triệu trong việc "tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt", và cho rằng đó là "di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt".

Theo một nghiên cứu của tác giả E Lusuo người Đài Loan về quá trình nhà Tần bình định vùng Nam Việt, dẫn tại [5], vào thời nhà Tần, dân cư bên này hay bên kia biên giới Việt-Trung hiện đại là không thể phân biệt được[6]; các học giả Trung Quốc gọi họ là người Lạc Việt, họ được cho là sử dụng cùng một ngôn ngữ.

[sửa] Vấn đề chấp nhận triều đại ngoại tộc

Có người cho rằng quan điểm của các sử gia Việt Nam và Trung Quốc, một nước phong kiến khác tại châu Á, có sự khác nhau. Ở Trung Quốc, có nhiều triều đại, điển hình là Bắc Ngụy thời Nam Bắc triều, nhà Nguyên, nhà Thanh đều xuất thân ngoại tộc, không phải người Hán, nhưng sử sách vẫn chép như những triều đại khác của Trung Quốc, không coi là thời kỳ bị nội thuộc Hung Nô hay Mông Cổ. Những triều đại này sử dụng tiếng Hán, nghi lễ tập tục trong triều đã Hán hóa khá nhiều. Thậm chí người Mãn đã Hán hóa đến mức ngày nay chỉ còn một số rất ít người già còn biết tiếng Mãn, còn lớp trẻ chỉ biết tiếng Hán, một phần người Mông Cổ hay người Mãn ngày nay là 2 trong số 56 dân tộc của Trung Quốc, tức là lịch sử của họ cũng có thể coi là một phần lịch sử quốc gia. Ngoài ra, đất đai của các triều đại này phần lớn là lãnh thổ Trung Quốc ngày nay.

Theo học giả Lê Thành Khôi thì mặc dù gốc Trung Hoa, Triệu Đà đã chịu đồng hóa với dân Nam Việt, mà ông chấp nhận các phong tục tập quán đến độ gần như quên cả quá khứ của mình.[7]

[sửa] Xem thêm

Nhà Triệu
Triệu Đà
[sửa] Liên kết ngoài


Bài này chứa quá nhiều liên kết ngoài, nên đưa vào liên kết trong hàng hoặc loại bỏ những liên kết không phù hợp.
Xin hãy giúp cải thiện bài này nếu bạn có thể.
Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa, phần 2 của Hà Văn Thùy đề cập đến việc nhìn nhận Nhà Triệu
Xem thêm vấn đề cư dân Lưỡng Quảng và nguồn gốc Bách Việt của họ, Việt Nam, Hán tộc:
Nhận diện thành phố Quảng Châu hôm nay, nơi cố đô Phiên Ngung nước Nam Việt ngày xưa - TRƯƠNG QUANG
Tên Gọi Nước Việt Nam - Cao Thế Dung
Ai Là Tổ Tiên Của Cư Dân Lưỡng Quảng - Lê Đỗ Huy lược dịch, trang Web của khoa Văn Hóa Học, trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn Tp. HCM.
Đài Loan và cội nguồn Bách Việt, phần một - Nguyễn Đức Hiệp
Đài Loan và cội nguồn Bách Việt, phần hai và hết - Nguyễn Đức Hiệp
Nguồn Gốc Người Hán Và Nước Tàu - Sài Gòn, Trọng Đông Bính Tuất.
Lịch Sử Miêu Tộc, tộc H'mong - Trần Trúc - Lâm
Tủ Sách Dũng Lạc - website thư viện chuyên đề lịch sử Việt Nam và Trung Hoa (cùng nhiều bài viết đáng tham khảo tại mục lục ở cột bên trái trang web hiển thị)
Việt Nữ Ca - bài hát theo Sở Từ, Th.s NGUYỄN NGỌC THƠ (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM)
Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh - Phạm Việt Châu, toàn bộ tác phẩm tại đây (weblink ở phía dưới trang web)
Tìm Lại Cội Nguồn Văn Hóa Người Việt - phần một - Hà Văn Thùy
Tìm Lại Cội Nguồn Văn Hóa Người Việt - phần hai và hết - Hà Văn Thùy
Thắng Qua hay là Món Lẩu của Miêu Tộc - Nguyễn Hạnh (Trong quá trình nghiên cứu Hán Nôm và văn tự khối vuông tại Bắc Kinh 2005)
Tiền sử Đông Nam Á – Người Austronesian trong thuyết “Tàu tốc hành” và thuyết “Tàu chậm” và sự hiểu biết hiện nay - Nguyễn Ðức Hiệp
Vài nét về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam bộ - phần một - Nguyễn Ðức Hiệp
Vài nét về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam bộ - phần hai và hết - Nguyễn Ðức Hiệp
VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ QUỐC TẾ TRONG CÁCH NHÌN CỦA TÔN TRUNG SƠN, GS.VS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, nguyên trưởng khoa Đông Phương Học Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp.HCM, Giáo Sư Bộ môn Văn hóa học - Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp.HCM
Thông Tin Tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Phỏng Vấn Phó Giáo Sư Nguyễn Văn Hồng, nhà nghiên cứu Trung Quốc Học tại Việt Nam, bài phỏng vấn do Chu Thùy Liên
Tôn Trung Sơn: Cách mạng Tân Hội và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc - Website của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
ÁNH SÁNG MỚI TRÊN MỘT QUÁ KHỨ LÃNG QUÊN - nguyên tác Nguyên tác “New Light on a Forgotten Past”, Tíến Sĩ WILHELM G SOLHEIM II. Giáo Sư Nhân Chủng Học Đại Học Hawaii. National Geographic, Vol. 139, No. 3, Người dịch: HOÀNG-HOA-NHÂN-KIỆT.
[sửa] Chú thích

^ a b Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Niên biểu Việt Nam, Hà Nội:Nxb Khoa học Xã hội, 1984
^ Có thuyết khác cho rằng Thục Phán không thể xuất xừ từ nước Thục ở Tứ Xuyên vì nơi đó quá xa Việt Nam, mà Thục Phán chính là thủ lĩnh của người Âu Việt (người Tày và người Nùng cổ) ở phía Tây Bắc Việt Nam.
^ a b Hà Văn Thùy, Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa.
^ Trịnh Chiêu (郑昭) - Taksin, vua Xiêm từ 1767 đến 1782, sinh tại Ayutthaya, Thái Lan, bố là người gốc Trừng Hải (澄海), Trung Quốc, mẹ là người Thái.
^ Jeffrey Barlow, The Zhuang: A Longitudinal Study of Their History and Their Culture, Section Chap. 3: The Qin Invasion of the Lingnan
^ Một sự kiện lịch sử ủng hộ thuyết này đó là: cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng cũng nhận được sự ủng hộ và tham gia của cư dân tại các quận Nam Hải, Hợp Phố mà nay thuộc địa phận Trung Quốc.
^ Lê Thành Khôi, Le Vietnam, histoire et civilisation, les Edition de Minuit, Paris 1955, tr 93

---------------------

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%A5 ... %E1%BB%87u
Post a reply