Người Dao / 瑤族
Người Dao
Cụ bà người Dao Đỏ ở Sapa, Việt Nam
Tổng dân số
3.100.000
Khu vực đông người sinh sống
Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan
Ngôn ngữ
Các ngôn ngữ Miêu-Dao, Tai-Kadai, Trung, Việt
Tín ngưỡng
Thờ cúng tổ tiên, Đạo giáo, Phật giáo, Kitô giáo
Người Dao (các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc ở Việt Nam.
Người Dao cũng là một trong số 56 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (tiếng Hán: 瑶族, Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là 2.637.000 người. Dân tộc này cũng là một dân tộc thiểu số ở Lào, Myanma, Thái Lan.
Mục lục
[ẩn]
1 Các nhóm và ngôn ngữ
2 Chữ viết
3 Văn hóa
4 Phong tục tín ngưỡng
5 Nhà cửa
6 Trang phục
7 Tại Trung Quốc
8 Tại Việt Nam
8.1 Nguồn gốc
8.2 Địa bàn cư trú
9 Hình ảnh
10 Ghi chú
[sửa] Các nhóm và ngôn ngữ
Có một số nhóm khác biệt trong phạm vi dân tộc Dao, và các nhóm này cũng nói bằng một vài ngôn ngữ từ các ngữ hệ khác nhau, như:
Ngữ hệ Miêu-Dao:
Người Miền nói các thứ tiếng Miền (tiếng Trung: 勉語/勉语, Hán-Việt: Miễn ngữ), bao gồm:
Các ngôn ngữ Miền-Kim
Tiếng Dìu Miền (Ưu Miền), khoảng 818.685 người (383.000 tại Trung Quốc, 350.000 tại Việt Nam, 40.000 tại Thái Lan, 20.250 tại Lào, 70.000 tại Hoa Kỳ)[1]
Tiếng Kim Môn (còn gọi là tiếng Dao đồng bằng, tiếng Làn Tẻn, tiếng Lam Điện), trên 300.000 người Dao[2]
Phương ngữ Phiêu Man, 20.000 người[3]
Phương ngữ Tảo Mẫn, 60.000 người[4]
Tiếng Miền Phiêu-Giao, 43.000 người[5]
Tiếng H'Mông (hay tiếng Miêu)
Tiếng Bố Nỗ, 258.000 người[6]
Phương ngữ Ngô Nại, 18.442 người[7]
Phương ngữ Ưu Nặc, 9.716 người[8]
Phương ngữ Huỳnh Nại, 1.078 người, còn được biết đến như là 'Hoa Lam Dao'[9]
Một vài nhà ngôn ngữ học gộp nhóm các ngôn ngữ trên - với tổng cộng trên 287.000 người - cùng nhau như là các phương ngữ của tiếng Bố Nỗ (布努语).
Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai:
Tiếng Lạp Già (拉珈語/拉珈语), 12.000 người[10]
Tiếng Trung:
Khoảng 500.000 người Dao nói các phương ngữ của tiếng Trung
[sửa] Chữ viết
Người Dao có chữ viết gốc Hán được Dao hóa (chữ Nôm Dao).
[sửa] Văn hóa
Sách cổ đã sưu tầm và kiểm kê có tới 68% là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Sách văn học tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ (22,8%) nhưng có giá trị quan trọng. Bên cạnh một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như: "Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "Bát Nương", "Lâu Cảnh", "Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca"... Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả (40%). Một số truyện tuy có chủ đề khác nhưng trước khi đề cập đến nội dung chính cũng kể về cuộc hành trình của người Dao.
[sửa] Phong tục tín ngưỡng
Họ có phong tục thờ tổ tiên là Bàn Hồ. Có thể xác định dòng họ và thứ bậc của người Dao qua tên đệm. Ma chay của người Dao được làm theo tục lệ xa xưa. Vài vùng có tục hỏa táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên. Tục ở rể có thời hạn và vĩnh viễn.
[sửa] Nhà cửa
Người Dao sống trong các nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất hay nhà trệt.
[sửa] Trang phục
Trong trang phục truyền thống, người Dao nam mặc quần và áo đơn giản, nữ trang phục phong phú hơn với những trang trí hoa văn truyền thống, đầu đội khăn.
[sửa] Tại Trung Quốc
Người Dao tại Trung Quốc có thể chia ra như sau:
Lam Điện Dao (Dao Chàm): Phân bố tại Vân Nam, Quảng Tây. Nhóm này cũng được coi là có mặt tại Việt Nam, Lào. Y phục của họ thường được nhuộm chàm.
Hồng Dao (Dao Đỏ): Chủ yếu cư trú tại huyện Long Thắng (Quảng Tây). Quần áo của họ thường là màu đỏ.
Bàn Dao: Chủ yếu cư trú tại Quế Bình (Quảng Tây). Thờ phụng Bàn Hồ. "Tết Bàn vương" là lễ hội quan trọng nhất.
Sơn Tử Dao:
Đính Bản Dao:
Hoa Lam Dao:
Quá Sơn Dao: Cư trú tại huyện Tân Ninh (Thiệu Dương, Hồ Nam).
Bạch Khố Dao: Chủ yếu cư trú tại Quảng Tây hà trì nam đan. Họ mặc quần màu trắng, vì thế mà có tên gọi này.
Bát Bài Dao: Chủ yếu cư trú tại huyện tự trị người Dao Liên Nam (Thanh Viễn, Quảng Đông).
Bình Địa Dao (Dao đồng bằng):
Ao Dao:
Trà Sơn Dao:
Bối Lâu Dao: Chủ yếu cư trú tại Lăng Vân (Bách Sắc, Quảng Tây).
Hai phụ nữ người Dao ở Sapa
[sửa] Tại Việt Nam
[sửa] Nguồn gốc
Theo kết quả nghiên cứu của Đề án "Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao" do Tiến sĩ Trần Hữu Sơn (Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao Lào Cai) chủ trì có đăng tại thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) gồm 7 nhóm. Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình muôn phần gian khổ vượt biển, vượt núi, vượt sông. Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ. Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang. Tới đây, họ di chuyển theo các hướng khác nhau là:
Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nên người Dao áo dài.
Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển.
Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó di chuyển tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tổ tiên người Dao quần chẹt ngày nay.
[sửa] Địa bàn cư trú
Dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Cụ thể, đa phần tại các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bìnhv.v
Tại Việt Nam, dân số người Dao theo điều tra dân số năm 1999 là 620.538 người[11].
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Dao ở Việt Nam có dân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1 % dân số toàn tỉnh và 14,6 % tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 12,1 % tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4 % dân số toàn tỉnh và 11,8 % tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3 % dân số toàn tỉnh và 11,2 % tổng số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2 % dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6 % dân số toàn tỉnh), Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1 % dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2 % dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người), Thái Nguyên (25.360 người)[12]...
[sửa] Hình ảnh
Mặt sau nhà nửa sàn nửa trệt của người Dao - Phục dựng tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Mặt bên nhà nửa sản nửa trệt của người Dao - Phục dựng tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
[sửa] Ghi chú
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Người Dao
^ Tiếng Dìu Miền (Iu Mien) trên
www.ethnologue.com^ Tiếng Kim Môn (Kim Mun) trên
www.ethnologue.com^ Phiêu Man (Biao Mon)
^ Dzao Min
^ Biao-Jiao Mien
^ Bunu
^ Wunai Bunu
^ Younuo Bunu
^ Jiongnai Bunu
^ Tiếng Lạp Già trên
www.ethnologue.com Lakkia
^ Điều tra dân số 1999, tập tin 25.DS99.xls
^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011
-----------------------
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Dao